KHI NÀO CÔNG AN ĐƯỢC QUYỀN KIỂM TRA ĐIỆN THOẠI?

COMMUNICATION HỎI - ĐÁP

Tạm giữ, khám xét tang chứng, vật chứng là một trong những biện pháp nghiệp vụ để giải quyết vụ án hình sự hoặc vụ việc vi phạm hành chính. Vậy khi nào công an làm nhiệm vụ được kiểm tra điện thoại của công dân?

Khi xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ Điều 119 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khám đồ vật trong đó có điện thoại di động là một trong những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính.

Đồng thời, việc khám này chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính (theo khoản 1 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Cơ quan công an có thẩm quyền khám điện thoại của cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm:

– Trưởng Công an phường; Trưởng Công an cấp huyện;

– Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ…

– Chiến sĩ cảnh sát nhân dân đang thi hành công vụ được khám điện thoại nếu có căn cứ cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy và phải báo cáo ngay cho Thủ trưởng trực tiếp của mình, chịu trách nhiệm về việc khám.

Lưu ý: Khi khám xét điện thoại thì phải có mặt của chủ điện thoại và 01 người chứng kiến. Nếu không có chủ điện thoại thì phải có 02 người chứng kiến. Mọi trường hợp khám xét điện thoại đều phải lập biên bản.

Do đó, công an chỉ được khám xét, thu giữ các dữ liệu trong điện thoại khi chúng có liên quan trực tiếp đến vụ án, vụ việc vi phạm hành chính.

​Khi nào công an được quyền kiểm tra điện thoại?
Ảnh minh họa.

Trong vụ án hình sự

Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, việc khám xét chỉ xảy ra trong các trường hợp:

– Khi có căn cứ để nhận định trong phương tiện đó có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

– Khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Đặc biệt, có thể khám xét điện thoại nếu có căn cứ để nhận định trong điện thoại có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.

Theo đó, cơ quan công an có thẩm quyền ra lệnh khám xét gồm:

– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong.

Lưu ý: Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản.

Nói tóm lại: Công an chỉ có quyền kiểm tra điện thoại của công dân khi có căn cứ cho rằng chiếc điện thoại này là bằng chứng hoặc có liên quan trực tiếp đến vụ án, vụ việc vi phạm hành chính hoặc có liên quan hoặc là phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự.

Nguồn: Luatvietnam

Địa chỉ: 280C12 Lương Định Của, phường An Phú, Quận 2, TP.HCM
Điện thoại: 0966 288 855
Email: [email protected]
Website: www.luatsurieng.net